• Các Học Thuyết Đông Y
  • Dược Tài Đông Y
  • Châm Cứu & Xoa Bóp
  • Phương Thuốc Cổ Truyền

Ngày 16 tháng 08 năm 2013

Bát cương

BÁT CƯƠNG



1. Đại cương 
Bát cương là tám hội chứng cơ bản của Đông y. Tám cương được xếp theo 4 cặp mang tính đối lập. Biểu lý, hàn nhiệt, hư thực, âm dương. Thực tế lâm sàng thường phức tạp, lẫn lộn, thực giả. 
2. Biểu - lý
Hai cương này nói lên vị trí của bệnh ở nông hay sâu trong cơ thể 
2.1 Chứng biểu 
- Nói lên bệnh ở phần nông của cơ thể như da, cơ, gân, khớp. Đối với bệnh cảm mạo hoặc bệnh truyền nhiễm thì bệnh còn ở giai đoạn khởi phát. 
- Biểu hiện lâm sàng 
Sốt nóng, sợ gió, đau đầu, đau mình, hắt hơi, sổ mũi, rêu lưỡi mỏng, mạch phù. Thường phân biệt 
+ Biểu hàn: sợ gió, sợ lạnh nhiều, sốt nhẹ, rêu lưỡi, trắng mỏng, mạch phù khẩn. 
+ Biểu nhiệt: Sốt nhiều, không sợ lạnh, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác. 
+ Biểu hư: Có mồ hôi, mạch phù hoãn. 
+ Biểu thực: Không mồ hôi, mạch phù khẩn 
2.2 Chứng lý: 
- Bệnh ở phần sâu trong cơ thể. Nếu là bệnh nhiễm khuẩn thì ở giai đoạn tòan phát, nếu bệnh thuộc tạng phủ thì thể hiện các triệu chứng của tạng bị bệnh. 
- Biểu hiện lâm sàng 
+ Bệnh nhiễm: Sôt cao, khát, lưỡi đỏ, rêu vàng, nôn đau bụng, táo bón, hoặc ỉa chảy ... có thể phân chia: 
+ Lý hàn: Người mát, chân tay lạnh, không khát nước, thích đắp chăn, đau bụng, thích chườm nóng, ỉa lỏng, rêu trắng, mạch trầm trì. 
+ Lý nhiệt: Sốt cao, khát nước, bứt rứt, táo bón, tiểu vàng lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm sác. 
+ Lý hư: Người mệt mỏi, ăn ít, giọng nói nhỏ yếu, hồi hộp, mấ ngủ, * hoặc bệu, mạch trầm, vô lực. 
+  Lý thực: Bụng đầy, ấn đau, táo bón, sốt cao, mê sảng hoặc phát cuồng, rêu lưỡi vàng dày, mạch trầm có lực. 
2.3 Chứng bán biểu bán lý 
Bệnh lúc ử biểu lúc ở lý. Biểu hiện sốt và rét xen kẽ ( hàn nhiệt vãn lai) mmiệng đắng, ngực sườn đầy tức, đau đầu, chóng mặt, rêu lưỡi trắng lẫn vàng, mạch huyền ( hội chứng thiếu dương) 
3. Hàn nhiệt 
Hai cương hàn, nhiệt, biểu hiện tính chất của bệnh. Dựa vào tính chất hàn hay nhiệt, thầy thuốc mới sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả. Trên lâm sàng, hàn, nhiệt thường lẫn lộn, có khi thực giả rất khó phân biệt. 
3.1 Chứng hàn 
- Do cảm nhiễm hàn tá hoặc do dương hư hoặc do ăn uống quá nhiều thứ sống lạnh. 
- Biểu hiện lâm sàng. Sợ lạnh, thích ấm, chân tay lạnh, miệng nhạt, không khát, sắc mặt xanh tái, tiểu nhiều và trong đại tiện lỏng, phân không thói, lưỡi bệu, rêu bóng ướt, mạc trầm trì. 
3.2 Chứng nhiệt 
- Do cảm hiễm nhiệt ta oặc do dương thịnh hoặc ăn uông nhiều thức ăn cay nóng hoặc dùng nhiều thuốc ôn nhiệt. 
- Biểu hiện lâm sàng: Sốt, thích mát, mặt đỏ, chân tay nóng tiểu ít và đậm, táo bón, rêu lưỡi , vàng khô, mạch sác. 
3.3 Hàn nhiệt lẫn lộn 
Trên ngời bệnh vừa có chứng àn vừa có chứng nhiệt. 
Biểu hàn, lý nhiệt, biểu nhiệt, lý hàn hoặc đầu nóng, chân lạnh hoặc tạng này hàn, tạng kia nhiệt. 
3.4 Hàn nhiệt chân giả 
Triệu chứng bệnh không đúng với tính chất thực của bệnh 
- Chân hàng giả nhiệt 
Bản chất bệnh tín hàn không thể hiện ra ngoài gọi lại là nhiệt. 
Nguyên nhân do âm hư quá mạnh bước dương phải ra ngoài hoặc " Hàn cực sinh nhiệt"
Ví dụ: Người bệnh thích uống nước nóng, thích đắp chân ăn  chất sống lạnh dễ tiêu chảy, nước tiểu trong ( chân bàn) nhưng người gầy, da nóng, má đỏ, môi khô, bứt rứt có khi rêu lưỡi vàng, mạch hoạt sác ( giả nhiệt).
Thường gặp ở bệnh nhân mạn tính cơ thếuy nhược hoặc bẩm thụ dương hư. 
- Chân nhiệt giả hàn 
Thực chất bệnh là nhiệt nhưng biểu hiện lâm sàng có những triệu chứng thuộc hàn.
Ví dụ: Bệnh nhân sốt cao, khát khao, tiểu vàng, táo bón, mạch trầm sác ( thực nhiệt) nhưng chân tay lạnh, rét run .... ( giả hàn). Thường gặp ở bệnh nhấnốt nhiễm khuẩn. Đây là tình trạng " Nhiệt cực sinh hàn", nhiệt quyết. 
4. Hư thực 
Hư thực là chỉ hai trạng thái yếu khỏe của cơ thể người bệnh lúc mắc bệnh, hư biểu hiện chính khí hư, sức đề kháng của cơ thể yếu, thực là khí mạnh và sức đề kháng của cơ thể còn mạnh. Dựa vào hư hay thực mà đề ra phép bổ hay tả. 
4.1 Chứng hư 
Có thể suy yếu , chức năng các tạng phủ giảm sút, mạch vô lực- Biểu hiện blâm sàng: Mệt mỏi, lười hoạt động, tinh thần ủ rũ, ít nói, tiếng nói nhỏ, hơi thở ngắn, ra mồ hôi nhiều, sắc mặt tái xanh, chất lưỡi nhạt, lưỡi thon hoặc bệu, mạch nhỏ yếu. Thường gặp sau khi mắc bệnh nặng ..... bệnh kéo dài, hoặc người già yếu. 
4.2 Chứng thực: 
Sức tấn công của là khí bệnh, bệnh mới mắc, thời gian ngắn có thể còn khỏe, phản ứng mạnh) 
- Biểu hiện lâm sàng thể trạng tốt, tinh thần lanh lợi, tiếng nói to, thỏ thô, sốt cao, mặt đỏ, đau cự án, rêu lưỡi vàng, mạch có lực. Thường gặp trong hội chứng đàm ẩm, **, khí trệ huyết ứ, thiện tích, trùng tíc. Bệnh cấp tính. 
4.3 Hư thực thác tạp 
Trên lâm sàng thường gặp các hội chứng "trong hư có thực" hoặc " trong thực có hư", chứng thực và chứng hư cùng tòn tại. Ví dụ: Bệnh xơ gan cổ chướng, người bệnh gầy, sắc da xanh vàng, nhợt nhạt, mệt mỏ, ít ăn, mạch trầm, tế vô lực ( chứng hư) nhưng bụng to đầy nước, ngực sườn đầy tức ( chứng thực). Phép chữa phải phải vừa công, vừa bổ , hoặc trước bổ sau công. ...
Ví dụ: người bệnh đang bị một bệnh mạn tính, cơ thể suy nhựoc lại bị cảm lạnh, ho, tức thở ...
4.4 Hư thực chân giả 
Cũng cần chú ý phân biệt trên lâm sàng 
- Chân hư giả thực. Bệnh nhân nói nhiều nhưng hơi thở ngắn, bụng đầy đau nhưng có lúc không đầy, ấn xoa giảm đau, lưỡi bệu, mạch vô lực. 
Chân tực giả hư. Bệnh nhân ít nói nhưng nói to, ăn không ngon miệng nhưng vẫn ăn được nhiều, đau bụng, ỉa chảy, nhưng tiêu xong dễ chịu, mạch có lực. 
5. Âm dương 
Là hai cương tổng quát để đánh giá xu thế của bệnh và cũng biểu hiện sự thiên thịnh suy của An dương trong cơ thể. 
5.1 Chứng âm, chứng dương 
- Âm chứng bao gồm chứng hư, phần âm chỉ phần dịch thể( tân dịch) bị thiếu hụt nên sinh ra hội chứng âm hư, cũng gọi là chứng " hư nhiệt" ( vì âm hư sinh nội nhiệt) 
Biểu hiện lâm sàng, người nóng da kho, lòng bàn chân bàn tay nóng, người gầy, sốt chiều, ra mồ hôi trộm, táo bón, tiểu đậm, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác. 
- Chứng dương hư: phần dương chỉ phần năng lượng , nhiệt lượng của cơ thể bị suy giảm, cũng gọi là chứng " hư hàn" ( dương hư sinh ngoại hàn) 
Biểu hiện lâm sàng: mệt mỏi, sợ lạnh, chân tay lạnh, sắc mặt xanh tái, ỉa chảy, nước tiểu trong, lưỡi nhạt bệu rêu trắng, mạch nhược. 
Thường gặp ở bệnh nhân mạn tính cơ thể suy nhược, trẻ em suy dinh dưỡng, lão suy. 
5.2 Vong âm, vong dương 
Là 2 hội chứng bệnh lý nguy kịch đe dọa tính mạng bệnh nhân. Cần chỉnh đoán chính xác, không được nhầm lẫn, vì cách xử trí khác hẳn nhau: nên là vong âm thì phải dùng thuốc mát ngọt mà không cứu ngải, nếu dùng vong dương phải dùng thuốc ấm nóng và cứu ngãi để hồi dương cứu nghịch. 
- Vong âm: là tình trạng mất nước, mất máu do ỉa chảy, mất nhiều mồ hôi, nôn. 
Biểu hiện lâm sàng: da khô, môi miệng khô, khát nước, lưỡi thon đỏ, mạch tế sác. 
- Vong dương: là tình trạng dương khí thoát, trụy tim mạc, thường do vong âm, do trúng hàn, do sốt cao quá, do sốc dị ứng ..... Biểu hiện lâm sàng: mặt môitái nhợt, chân tay lạnh, mạch vi tế khó bắt (muốn tuyệt).

[Xem tiếp...]

Ngày 29 tháng 12 năm 2009

Y Huấn Cách Ngôn

9 ĐIỀU Y HUẤN CÁCH NGÔN

1- Phàm người học thuốc, tất phải hiểu thấu lý luận đạo Nho, có thông lý luận đạo Nho thì học thuốc mới dễ. Khi có thời giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn nghiên cứu các sách thuốc xưa nay. Luôn luôn phát huy biến hóa, thu nhập được vào Tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứng vào việc làm mà không phạm sai lầm.

2- Được mời đi thăm bệnh : nên tùy bệnh cần kíp hay không mà sắp đặt đi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn mà nơi đến trước chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng mình có chỗ không thành thật, thì khó mong thu được kết quả.

3- Khi xem bệnh cho phụ nữ, góa phụ, ni cô... cần phải có người nhà bên cạnh mới bước vào phòng để thăm bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn coi họ như con nhà tử tế, không nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm.

4- Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng con người. Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào"

5- Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu chữa, tuy đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước rồi mới cho thuốc. Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ biết cảm phục mình. Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự mình cũng không hổ thẹn.

6- Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt. Theo sách Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn Thận. Hoặc theo đúng từng phương mà bào chế, hoặc tùy bệnh mà gia giảm. Khi lập ra phương mới, phải phỏng theo ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để thử bệnh. Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ. Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế sẳn. Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay.

7- Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hòa nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng; người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ. Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình.

8- Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, góa bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt. Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm 1 chút họ sẽ được sống 1 đời. Còn như những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tùy sức mình chu cấp cho họ nữa. Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật. Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm.

9-Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch. Tôi xét lời dạy bảo của các bậc tiên hiền về lòng tử tế và đức hàm dục, rèn luyện cho mình rất chặt chẽ và đầy đủ. Đạo làm thuốc là 1 nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công. Tuy không có sự báo ứng ngay nhưng để lại âm đức về sau. Phương ngôn có câu : "Ba đời làm thuốc có đức thì đời sau con cháu tất có người làm nên khanh tướng" đó phải chăng là do có công vun trồng từ trước chăng" Thường thấy người làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp : bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó bảo là không trị được, giở lối quỷ quyệt đó để thỏa mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu thì tỏ tình sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi! Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán, như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được!".
Hải Thượng Lãn Ông
[Xem tiếp...]

Ngày 05 tháng 08 năm 2009

Bài Thuốc Đông Y



Bong gân nghĩa là bong các tổ chức bám quanh khớp sau một chấn động quá mức. Biểu hiện đau khi cử động, sưng nề, không đi lại được hoặc hạn chế đi lại (nếu bong nhẹ).
Xử trí: sau khi bị thương, phải dùng kẹp bất động, hoặc dùng băng cố định sau đó dùng các thuốc sau:
* Thuốc đắp ngoài: các lá sau: Lá Chìa vôi, Lá Bạc thau, Lá Đau xương, Lá Cúc tần, Lá Thầu dầu tía, Lá Ngải cứu, Lá Náng hoa trắng
- Cách làm: dùng 1-3 vị rửa sạch, giã nát trộn với dấm hoặc rượu, sao nóng đắp vào chỗ chấn thương. Khi nào khô lại thay miếng khác. Nên dùng phối hợp 3 vị với nhau sẽ tốt hơn 1 vị đơn độc.
* Thuốc uống trong:
Bài 1: Nghệ vàng 2 củ (thái mỏng sao rượu), Cỏ x­ước 12g (thái mỏng sao rượu), Vỏ cây gạo 16g (bỏ vỏ ngoài thái mỏng sao rượu), Cây lá lốt 16g sao vàng cho vào xoong sắc còn 1 bát. Chia 2 lần uống trong ngày.
Bài 2: Tua rễ si 50g (nếu không có tua thay thế bằng cành si 60g) chặt từng khúc 3cm. Sao vàng, sắc đặc còn 1 bát. Cho bệnh nhân uống.
Nên pha thêm 1 chén rượu khi uống càng hay.
Nguồn: Bộ Y Tế

[Xem tiếp...]

Ngày 04 tháng 08 năm 2009

Bài Thuốc Đông Y



Các bài thuốc dưới đây đều lấy trong "Thiên kim yếu phương" của Tôn Tư Mạc đời Đường và "Bản thảo cương mục đời Minh".
Bài 1:
Đinh hương .................................. 15 g
Cam thảo .................................... 90 g
Tế tân, quế tâm mỗi loại ............... 45 g
Xuyên khung ................................ 30 g
Năm vị trên đều nghiền thanh bột mịn, hoàn với mật, to như viên đạn. Trước khi đi ngủ uống 5 g, một thời gian sẽ hết hôi.
Bài 2: Quế tâm, cam thảo, tế tân, quất bì mỗi loại lấy lượng bằng nhau, nghiền bột, dùng táo nhục và mật luyện thành hoàn to bằng hạt đậu. Mỗi lần uống 5-10 g trước khi đi ngủ.
Bài 3: Xuyên tiêu, quế tâm, mỗi loại lấy bằng nhau, tán bột. Mỗi lần uống một thìa canh bột với rượu.
Bài 4: Vỏ trắng rễ thông (tùng căn), quả sử nhân (hạt bí bóc vỏ), đại táo, mỗi loại có lượng bằng nhau, tán bột, rây. Mỗi lần uống một thìa canh bột với rượu, ngày uống 2 lần.
Bài 5: Đậu khấu, đinh hương, hoắc hương, đinh lăng hương, thanh mộc hương, bạch chỉ, quế tâm, mỗi loại 30 g, hương phụ tử 60 g. Tùng hương, đương quy mỗi loại 15 g, cau 2 quả (lấy hạt). Các loại thuốc trên đều tán bột, hoàn với mật, viên to hạt đậu. Mỗi lần ngậm một viên, nuốt dần nước dịch. Ngày ngậm 3 lần, đêm 1 lần. Trong sách có chép về bài thuốc này như sau: ngậm 5 ngày miệng đã thấy thơm, 10 ngày người thơm, 14 ngày quần áo cũng thơm, 20 ngày người đi qua trong gió có mùi thơm, 28 ngày thì nước rửa tay rơi xuống đất cũng thơm, 35 ngày ngày khác bắt tay, tay họ cũng thơm
Bài 6: Hạt dưa hồng (dưa thơm) một ít, giã thành bột, hoàn với mật to bằng hạt đậu xanh. Mỗi sáng, sau khi súc miệng ngậm 1 viên. Có thể chữa hôi miệng.
Bài 7: Hương nhu một nắm sắc lấy nước súc miệng
Bài 8: Hạt mướp đắng nghiền bột, luyện với mật hoàn thành viên to bằng nửa quả táo ta. Mỗi sáng sau khi súc miệng, ngậm một viên. Ngậm xong lại dùng viên khác chét vào chân răng, đợi tan ra nước bọt thì nhổ dần. Bài này chữa hôi miệng rất hiệu quả.
Bài 9: Bạch chỉ 60g tán bột, ăn cơm xong uống 3g với nước.
Bài 10: Lấy một ít xuyên khung, sắc nước ngậm.
Bài 11: Xuyên bạch chỉ, xuyên khung, hai thứ lấy bằng nhau, tán bột, trộn đều luyện mật thành hoàn, hàng ngày ngậm, lâu dần miệng sẽ thơm.
Bài 12: Đậu khấu, tế tân hai thứ lấy bằng nhau, tán bột ngậm.
Bài 13: Ích trí nhân 30 g Cam thảo 10 g Tán bột , thỉnh thoảng ăn. Ăn lâu, miệng từ hôi trở thành thơm.
Bài 14: Nghiền bột Mật đà tăng, cho vào dấm, súc miệng sẽ khỏi hôi miệng
Bài 15: Quả mai phơi khô, ngậm nó luôn có thể khỏi hôi miệng. Thanh niên mắc chứng hôi mồm, hôi miệng nhiều khi tiếp xúc với người xung quanh rất e ngại. Có người còn không giám tiếp xúc nói chuyện. Trị chứng hôi mồm, hôi miệng rất đơn giản, song phải rất kiên trì làm nhiều lần mới khỏi.
Bài 16: Lá trầu không 1000 g. Thái nhỏ cho vào nồi, đổ khoảng 2 lít nước đun kỹ. Sau đó gạn lấy nước đặc, xúc miệng ngày 3-4 lần. Hoặc dùng tăm bông chấm nước trầu không bôi vào răng, lợi hàng ngày. Vì trầu không ngoài việc chữa hôi mồm, hôi miệng còn chữa được cả bệnh lở loét viêm chân răng có mủ
Bài 17: H­ương nhu 10 g N­ước 200ml Cả hai thứ bỏ vào nồi đun sôi trong vòng 15 phút. Sau đó để nguội ngậm và súc miệng hàng ngày cho đến khi khỏi mới thôi.
Sưu tầm
[Xem tiếp...]

Ngày 27 tháng 07 năm 2009

Thuốc Giải Biểu

THUỐC GIẢI BIỂU

1. Định nghĩa: Thuốc giải biểu là những thuốc dùng để đưa ngoại tà (Phong, Hàn, Thấp, Nhiệt) ra ngoài cơ thể bằng đường mồ hôi.
2. Phân loại: Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh: Phong hàn, Phong nhiệt và Phong thấp mà người ta chia 3 loại chính:
* Thuốc phát tán Phong hàn: Đa số vị cay (Tân), tính ấm (Ôn) nên còn gọi là thuốc Tân ôn giải biểu.
* Thuốc phát tán Phong nhiệt: Đa số vị cay (Tân), tính mát (Lương) nên còn gọi là thuốc Tân lương giải biểu.
* Thuốc phát tán Phong thấp: Có nhiều vị cay ấm (Tân ôn) cũng có vị tính mát lạnh hoặc tính bình dùng để chữa các chứng bệnh phong thấp kèm thêm hàn, nhiệt khác nhau.
3. Tác dụng chung và chỉ định chữa bệnh:
* Phát tán giải biểu do ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt, phong thấp. * Chữa các chứng đau dây thần kinh, co cứng các cơ.
* Chữa ho hen suyển, tức ngực, khó thở.
* Giải độc, làm mọc các nốt ban chẩn.
* Lợi niệu, trừ phù thủng.
* Chữa đau các khớp xương.
4. Những điểm cần chú ý khi dùng thuốc giải biểu:
* Chỉ sử dụng thuốc này khi Tà còn ở biểu. Nếu Tà đã vào Lý mà Biểu chứng vẫn còn thì phối hợp với thuốc phần lý: gọi là biểu lý cùng giải.
* Mùa hè trời nóng thì dùng lượng ít, mùa đông lạnh dùng lượng cao .
* Phụ nữ sau đẻ, người già yếu, trẻ em thì dùng lượng ít và phối ngũ với các thuốc dưỡng Âm, bổ Huyết, ích Khí.
* Các vị thuốc phát hãn gây ra mồ hôi không nên dùng lâu.
* Khi uống thuốc cho ra mồ hôi, nên uống nóng, ăn cháo nóng, đắp chăn, mặc áo ấm để giúp cho việc ra mồ hôi tốt hơn.
5. Cấm kỵ:
* Các trường hợp ra mồ hôi: tự hãn, đạo hãn.
* Các trường hợp tân dịch hao tổn.
* Các mụn nhọt đã vỡ, các nốt ban đã mọc hết, bay đi.
* Sốt do âm hư.

[Xem tiếp...]

Lịch Sử & Đại Cương Thuốc Đông Dược

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VÀ ĐẠI CƯƠNG VỀ THUỐC ĐÔNG DƯỢC

1. Sơ lược lịch sử thuốc Đông Dược: Dân tộc Việt Nam đã có trên 4.000 năm lịch sử, có truyền thống xây dựng đất nước, đánh giặc giữ nước, phát triển văn hoá. Nhân dân ta có nhiều kinh nghiệm phòng bệnh và chữa bệnh bảo vệ sức khỏe và đã có một nền y học dân tộc không ngừng phát triển qua các thời kỳ lịch sử:
- Thời kỳ dựng nước: (Thời kỳ Hùng Vương: 2.900 năm trước CN) Theo các truyền thuyết lưu lại thì tổ tiên ta đã biết dùng: Gừng, Riềng làm thức ăn gia vị và chữa bệnh, biết ăn trầu để làm ấm cơ thể, biết nhuộm răng để bảo vệ răng ... Đến đầu thế kỷ thứ 2 trước CN đã có hàng trăm vị thuốc được phát hiện và sử dụng ở nước ta như: quả Giun, Sắn dây, Sen, Quế ...
- Thời kỳ đấu tranh giành độc lập lần thứ nhất: (Năm 111 trước CN - 938 sau CN) Thời kỳ này có sự giao lưu các vị thuốc của ta qua Trung Quốc như: Trầm Hương, Đồi mồi, Tê giác.
- Thời kỳ độc lập giữa các triều đại: Ngô - Đinh - Lê - Lý - Trần - Hồ (năm 939 - 1406) Sau chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta trên sông Bạch Đằng năm 938 đã kết thúc ách thống trị 1.000 năm bắc thuộc. Lúc này Thái y viện ngoài việc chăm lo sức khoẻ cho nhà vua, còn tổ chức việc trồng thuốc: di tích hiện nay còn lại ở xã Đại Yên, khu Ba đình Hà Nội.
Danh y nổi tiếng sử dụng thuốc Nam đó là Tuệ Tĩnh, ông đã để lại bộ sách: Nam dược thần hiệu: có 11 quyển gồm 580 vị thuốc có trong nước.
- Khi đất nước được độc lập: Bác Hồ là người trước hơn ai hết quan tâm đến vấn đề kết hợp nền y học hiện đại với nền y cổ truyền dân tộc để xây dựng nền y học Việt Nam: Thư Bác gửi cho Hội nghị ngành y tế ngày 27-2-1955 Người viết: "Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc Bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô, các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây". Phong trào trồng và sử dụng thuốc nam tại xã, có nơi quy mô toàn huyện, thực hiện khẩu hiệu: thầy tại chổ, thuốc tại nhà. Nhà nước thành lập Viện dược liệu để nghiên cứu các cây con làm thuốc và cũng đã di thực được một số vị thuốc xưa nay phải nhập như: Quy, Bạch truật, Huyền sâm, Sinh địa...
Hiện nay Nhà nước ta kêu gọi mọi người từ miền núi đến miền xuôi sưu tầm những cây con làm thuốc có giá trị cao, vận động các thôn bản, gia đình trồng cây vừa làm thuốc, làm cây cảnh, làm thực phẩm...
2. Nguồn gốc - thu hái - bảo quản:
2.1. Nguồn gốc: Thuốc Đông dược có nguồn từ:
- Thực vật: Sài đất, Cỏ tranh, Lạc tiên...
- Động vật: Rắn, Nhím, Bìm bịp...
- Khoáng vật: Thạch cao, Long cốt...
- Một số chế phẩm hoá học: A Sen, Thạch tính, Mang tiêu...
2.2. Thu hái: Các bộ phận cây thuốc có thời kỳ nhất định. Tỷ lệ hoạt chất cao nhất của các cây thuốc tuỳ theo từng bộ phận với thời gian thu hái khác nhau. Các bộ phận được tiến hành thu hái như sau:
- Gốc, củ, rễ, vỏ rễ: Thu hái về mùa Đông.
- Mầm, lá: Thu hái về mùa xuân, hè.
- Hoa: Thu hái lúc ngậm nụ hoặc mới nở.
- Quả: Thu hái lúc đã già, chín.
- Hạt: Thu hái lúc quả thật chín muồi.
2.3. Bảo quản: Các loại thuốc thực vật: cần tránh ẩm thấp, sâu, mọt mốc. Các vị thuốc có tinh dầu: tính nóng, phơi âm can...
3. Tính năng dược vật: Tính năng dược vật là tác dụng dược lý của vị thuốc để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng về Âm Dương trong cơ thể. Tính năng của vị thuốc gồm: Khí, vị, thăng, giáng, phù, trầm và bổ tả.
3.1. Tứ khí còn gọi là tứ tính: tính chất của thuốc.
- Loại lạnh (hàn) như: Lô căn, Thạch cao, Tri mẫu...
- Loại mát (lương) như: Sinh địa, Bạch mao căn, Địa cốt bì...
- Loại ấm (ôn) như: Sinh khương, Bạch chỉ, Quế chi...
- Loại nóng (nhiệt) như: Can khương, Phụ tử, Nhục quế...
+ Loại hàn lương thuộc Âm gọi là Âm dược dùng để thanh nhiệt, tả hoả, giải độc, tính chất trầm giáng chữa chứng nhiệt: Dương bệnh.
+ Loại ôn nhiệt thuộc Dương gọi là Dương dược dùng để ôn trung, tán hàn, tính chất thăng phù để chữa chứng hàn: Âm bệnh. Ngoài ra còn có một loại thuốc tính bình dùng để chữa các bệnh thuộc Hàn hay Nhiệt đều được.
3.2. Vị của thuốc: Có 5 vị gọi là ngũ vị: Cay, Ngọt, Đắng, Chua, Mặn.
- Vị cay (Tân) hay tản (Tán) ra, hay chạy: dùng để chữa các bệnh ở phần Biểu như: Bạc hà, Tía tô, Sinh khương...
- Vị ngọt (Cam) có tác dụng bổ dưỡng, làm hòa hoãn, giảm cơn đau, giảm độc tính như: Cam thảo, Đại táo, Mật ong.. .
- Vị đắng (Khổ) có tác dụng làm mềm, làm khô, làm mát để thanh nhiệt táo thấp như: Hoàng bá, Hoàng liên, Khổ sâm...
- Vị chua (Toan) có tác dụng thu liễm, cố sáp giảm đau để chữa chứng bệnh ra mồ hôi, đái dầm, di tinh như: Kim anh tử, Khiến thực, Ô mai...
- Vị mặn (Hàm) có tác dụng đi xuống, làm mềm các chất rắn để chữa: táo bón, viêm hạch như: Mang tiêu...
Tóm lại ngũ vị có liên quan mật thiết với ngũ tạng, ngũ sắc, từ đó ta vận dụng để bào chế thuốc.
[Xem tiếp...]

Ngày 06 tháng 07 năm 2009

Nhân Sâm của người Nghèo

CÀ RỐT, NHÂN SÂM CỦA NGƯỜI NGHÈO


Sâm là món thuốc quý trong y học đông phương mà ngày nay y học thực nghiệm Tây phương cũng phần nào công nhận. Nhưng sâm là dược thảo đắt tiền nên dân bạch đinh ít người có cơ hội sử dụng. Và các nhà y học cổ truyền đã khám phá ra một thảo mộc có giá trị tương tự như sâm để thay thế. Ðó là củ cà rốt màu đỏ nho nhỏ mà các vị lương y này coi như là một thứ nhân sâm của người nghèo (theo lương y Lê Trần Ðức).Có lẽ vì là “nhân sâm của người nghèo”, nên cà rốt được tạo hóa đặc biệt ưu tiên ban cho dân chúng ở vùng đất sỏi đá Afghanistan từ nhiều ngàn năm về trước để dân chúng bồi bổ, tăng cường sức khỏe.
Từ mảnh đất nghèo khó đó, cà rốt được các đế quốc La Mã, Hy Lạp khi xưa biết tới giá trị dinh dưỡng cũng như y học. Họ mang về trồng làm thực phẩm và để chữa bệnh. Các danh y hai quốc gia này như Hippocrattes, Galen, Diocorides..đã lên tiếng ca ngợi cà rốt vừa là thức ăn ngon, vừa là dược thảo tốt để chữa bệnh cũng như tăng cường khả năng tình dục.
Trải qua nhiều thế kỷ, cà rốt du nhập tới các quốc gia khác trên khắp trái đất và là món ăn ưa chuộng của mọi người dân, không kể giầu nghèo. Người Tây Ban Nha mang cà rốt đến châu Mỹ vào thế kỷ thứ 15, rồi người Anh cũng mang theo khi họ đi chinh phục Mỹ vào thế kỷ thứ 16.
Hiện nay, Trung Hoa đứng đầu về số lượng sản xuất cà rốt, tiếp theo là Hoa Kỳ, Ba Lan, Nhật Bản, Pháp, Anh và Đức. Mỗi năm, Hoa kỳ thu hoạch trên 1,5 triệu tấn cà rốt, hơn một nửa được trồng ở tiểu bang California. Cà rốt có nhiều mầu khác nhau như trắng, vàng, đỏ và tím đỏ. Loại cà rốt đầu tiên ở A Phú Hãn có mầu trắng, đỏ, vàng. Hòa Lan là quốc gia đầu tiên trồng cà rốt màu cam vào khoảng đầu thế kỷ 17.
Mầu của cà rốt tùy thuộc vào một số yếu tố như là: nhiệt độ nóng quá hoặc lạnh quá làm giảm mầu cà rốt; cà rốt thu hoạch vào mùa Xuân và Hạ có mầu xậm hơn là vào mùa Thu và Ðông; tưới nước quá nhiều và nhiều ánh sáng làm giảm mầu cà rốt... Cà rốt được trồng bằng hạt từ tháng Giêng tới tháng Bảy, nẩy mầm sau hai tuần lễ và có củ trong thời gian từ hai tới ba tháng. Cà rốt có thể nhỏ síu bằng đầu ngón tay em bé hoặc dài tới ba gang tay, đường kính bằng cổ tay.
Cà rốt là tên phiên âm từ tiếng Pháp carotte. Tên khoa học là Dacus carota. Người Trung Hoa gọi là Hồ La Bặc. Theo họ, loại rau này có nguồn gốc từ nước Hồ, và có hương vị như rau la-bặc, một loại cải của Trung Hoa.
Giá trị dinh dưỡng
Một củ cà rốt cỡ trung bình có 19 mg calci, 32 mg phospho, 233 mg kali, 7 mg sinh tố C, 7 gr carbohydrat, 5 gr đường, 2gr chất xơ, 1gr chất đạm, 6.000mcg sinh tố A, 40 calori, không có chất béo hoặc cholesterol.
TInh dầu cà rốt có nhiều hóa chất khác nhau, trong đó có một loại insulin thực vật.
Một ly (240ml) nước cà rốt lạnh nguyên chất cung cấp khoảng 59 mg calci, 103 mg phospho 718 mg kali, 21 mg sinh tố C, 23 g carbohydrat và 18.000mcg sinh tố A.
Thật là một món giải khát vừa ngon vừa bổ dưỡng.
Cà rốt như thực phẩm
Vị dịu ngọt của cà rốt rất thích hợp với nhiều thực phẩm khác, cho nên có nhiều cách để nấu nướng cà rốt. Cà rốt có thể ăn sống hay nấu chín với nhiều thực phẩm khác, nhất là với các loại thịt động vật. Người viết không dám lạm bàn. Chỉ xin thưa rằng: bò kho mà không có cà rốt thì chẳng phải bò kho. Cảm lạnh mà được một bát cạnh thịt nạc nấu với cà rốt, đậu hà lan thêm vài nhánh hành, ăn khi còn nóng hổi thì thấy nhẹ cả người. Chả giò chấm nước mắm pha chua ngọt mà không có cà rốt thái sợi thì ăn mất ngon. Cà rốt cào nhỏ, thêm chút bơ ăn với bánh mì thịt nguội thì tuyệt trần đời...
Dù ăn cách nào, sống hay chín, cà rốt vẫn giữ được các chất bổ dưỡng. Đặc biệt khi nấu thì cà rốt ngọt, thơm hơn vì sức nóng làm tan màng bao bọc carotene, tăng chất này trong món ăn. Nhưng nấu chín quá thì một lượng lớn carotene bị phân hủy.
Cà rốt ăn sống là món ăn rất bổ dưỡng vì nhiều chất xơ mà lại ít calori. Cà rốt tươi có thể làm món rau trộn với các rau khác. Cà rốt đông lạnh cũng tốt như cà rốt ăn sống hoặc nấu chín, chỉ có cà rốt phơi hay sấy khô là mất đi một ít beta carotene. Cà rốt ngâm giấm đường cũng là món ăn ưa thích của nhiều người.
Ăn nhiều cà rốt đưa đến tình trạng da có màu vàng như nghệ. Lý do là chất beta caroten không được chuyển hóa hết sang sinh tố A nên tồn trữ ở trên da, nhất là ở lòng bàn tay, bàn chân, sau vành tai. Tình trạng này không gây nguy hại gì và da trở lại bình thường sau khi bớt tiêu thụ cà rốt.
Nước vắt cà rốt là món thức uống tuyệt hảo.
Rửa sạch cà rốt với một bàn chải hơi cứng, đừng bỏ hết vỏ vì sinh tố và khoáng chất nằm ngay dưới vỏ. Sau khi ép, nên uống ngay để có hương vị tươi mát. Muốn để dành nước cà rốt, nên cho vào chai đậy kín để tránh oxy hóa rồi cất trong tủ lạnh. Với 1 lb cà rốt làm được từ 6 tới 8 oz nước triết cà rốt. Nên lựa cà rốt lớn, chắc nịch với mầu vàng đậm hơn là loại vàng nhạt, để có nhiều caroten. Có thể pha uống chung nước cốt cà rốt với nước trái cam, cà chua, dứa để tạo ra một hỗn hợp nước uống mang nhiều hương vị khác nhau.
Lá cà rốt cũng có thể ăn được, nhưng hơi đắng vì chứa nhiều kali. Lá có nhiều chất đạm, khoáng và sinh tố. Ðể bớt cay, trộn một chút giấm đường. Lá có tính cách sát trùng nên nước cốt lá cà rốt được thêm vào nước súc miệng để khử trùng.
Công dụng y học
Cà rốt chứa rất nhiều beta carotene, còn gọi là tiền- vitamin A, vì chất này được gan chuyển thành sinh tố A với sự trợ giúp của một lượng rất ít chất béo.
Trong 100 gr cà rốt có 12.000 microgram (mcg) caroten, có khả năng được chuyển hóa thành khoảng 6000mcg vitamin A trong cơ thể. Trong khi đó thì lượng caroten do 100gr khoai lang cung cấp là 6000 mcg, xoài là 1,200 mcg, đu đủ từ 1,200 đến 1,500 mcg, cà chua có 600mcg, bắp su có 300 mcg, cam có 50 mcg caroten...
Nhà dinh dưỡng uy tín Hoa Kỳ Roberta Roberti đã liệt kê một số công dụng của cà rốt đối với cơ thể như: làm tăng tính miễn dịch, nhất là ở người cao tuổi, giảm cháy nắng, giảm các triệu chứng khó chịu khi cai rượu, chống nhiễm trùng, chống viêm phổi, giảm bớt mụn trứng cá, tăng hồng huyết cầu, làm vết thương mau lành, giảm nguy cơ bệnh tim mạch
Bản hướng dẫn về dinh dưỡng của Bộ Canh Nông Hoa Kỳ vào năm 1995 có ghi nhận rằng ‘Các chất dinh dưỡng chống oxy hóa trong thực phẩm thực vật như sinh tố C, carotene, sinh tố A và khoáng selenium đều được các nhà khoa học thích thú nghiên cứu và quần chúng ưa dùng vì chúng có khả năng giảm thiểu rủi ro gây ra ung thư và các bệnh mãn tính khác’ .
Từ thời xa xưa ở Ấn Độ, Hy Lạp và La Mã, cà rốt, nước ép cà rốt, trà cà rốt đã được dùng để trị bệnh
1-Cà rốt với bệnh ung thư
Beta carotene có tác dụng chống ung thư trong thời kỳ sơ khởi, khi mà các gốc tự do tác động để biến các tế bào lành mạnh thành tế bào bệnh. Beta carotene là chất chống oxi hóa, ngăn chận tác động của gốc tự do, do đó có thể giảm nguy cơ gây ung thư phổi, nhiếp hộ tuyến, tụy tạng, vú và nhiều loại ung thư khác.
Theo nhà thảo mộc học J.L.Hartwell thì cà rốt được dùng trong y học dân gian tại một số địa phương rải rác trên thế giới như Bỉ, Chí Lợi, Anh, Đức, Nga, Mỹ... để trị các chứng ung thư, mụn loét có tính ung thư, chứng suy gan và suy tủy sống.
Kết quả nghiên cứu tại Anh và Ðan Mạch cho hay chất Falcarinol trong cà rốt có thể giảm nguy cơ ung thư. Bác sĩ Kirsten Brandt, giáo sư tại đại học Newcastle và là một thành viên của nhóm nghiên cứu cho hay, họ sẽ tiếp tục tìm hiểu coi phải dùng một số lượng là bao nhiêu để hóa chất này có tác dụng ngừa ung thư. Giáo sư Brandt cũng tiết lộ là vẫn ăn cà rốt mỗi ngày.
2-Cà rốt với ung thư phổi
Kết quả nghiên cứu của giáo sư dinh dưỡng Richard Baybutt và cộng sự tại Ðại học Kansas, Hoa Kỳ, cho hay chất gây ung thư benzo(a)pyrene có thể gây ra thiếu sinh tố A trong cơ thể chuột và đưa tới bệnh emphysema. Ông kết luận rằng một độ dinh dưỡng có nhiều sinh tố A sẽ bảo vệ cơ thể đối với ung thư phổi và emphysema.
3-Cà rốt với hệ tiêu hóa
Súp cà rốt rất tốt để hỗ trợ việc điều trị bệnh tiêu chẩy, đặc biệt là ở trẻ em. Súp bổ sung nước và các khoáng chất thất thoát vì tiêu chẩy như K, sodium, phosphor, calcium, magnesium.
Một số bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa nhận xét rằng cà rốt làm bớt táo bón, làm phân mềm và lớn hơn vì có nhiều chất xơ. Do công dụng này, cà rốt cũng có thể làm giảm nguy cơ ung thư ruột già
4-Cà rốt với thị giác
Cà rốt không ngăn ngừa hoặc chữa được cận thị hay viễn thị nhưng khi thiếu sinh tố A, mắt sẽ không nhìn rõ trong bóng tối. Cà rốt có nhiều beta caroten, tiền thân của sinh tố A.
Ở võng mạc, sinh tố A biến đổi thành chất rhodopsin, mầu đỏ tía rất cần cho sự nhìn vào ban đêm. Ngoài ra, beta caroten còn là một chất chống oxy hóa rất mạnh có thể ngăn ngừa võng mạc thoái hóa và đục thủy tinh thể. Ðây là hai trong nhiều nguy cơ đưa tới khuyết thị ở người cao tuổi. Chúng ta chỉ cần ăn một củ cà rốt mỗi ngày là đủ sinh tố A để khỏi bị mù ban đêm.
Nhiều người còn cho là cà rốt với số lượng sinh tố A và Beta Carotene lớn còn có khả năng chữa và ngăn ngừa được các chứng viêm mắt, hột cườm mắt, thoái hóa võng mạc...
Một sự trùng hợp khá lạ là khi cắt đôi, củ cà rốt với các đường tỏa ra chung quanh trông giống như đồng tử pupil và iris con mắt. Như vậy phải chăng tạo hóa đã sắp đặt để con người nhận ra giá trị của cà rốt đối với cặp mắt...
5-Cà rốt với bệnh tim
Nghiên cứu tại Ðại học Massachsetts với 13,000 người cao tuổi cho thấy nếu họ ăn một củ cà rốt mỗi ngày thì có thể giảm nguy cơ cơn suy tim tới 60%. Ðó là nhờ có chất carotenoid trong cà rốt.
6-Cà rốt với cao cholesterol
Bác sĩ Peter Hoagland thuộc Bộ Canh Nông Hoa Kỳ cho hay chỉ ăn hai củ cà rốt mỗi ngày có thể hạ cholesterol xuống từ 10-20%. Thí nghiệm bên Scotland cho thấy tiêu thụ 200 g cà rốt sống mỗi ngày, liên tục trong 3 tuần lễ, có thể hạ mức cholesterol xuống khoảng 11%.
Các nhà nghiên cứu tại Ðài Loan cũng có cùng ý kiến.
7-Cà rốt với bệnh tiểu đường
Theo S Suzuki, S Kamura, tiêu thụ thực phẩm có nhiều carotenoid có thể làm giảm nguy cơ mắc tiểu đường loại 2 bằng cách tăng tác dụng của insulin.
8-Cà rốt với phụ nữ
Với phụ nữ, cà rốt có thể mang tới nhiều ích lợi như làm giảm kinh nguyệt quá nhiều, giảm triệu chứng khó chịu trước khi có kinh, bớt bị chứng viêm âm hộ và nhiễm trùng đường tiểu tiện nhất là giảm nguy cơ loãng xương sau thời kỳ mãn kinh.
Cà rốt trong đời sống
Các khoa học gia tại Ðại học York bên Anh đã phân tách từ cà rốt một loại chất đạm đặc biệt có thể dùng để chế biến chất chống đông lạnh (antifreeze). Nếu thành công, chất chống đông lạnh này sẽ rất hữu dụng ở trong phòng thí nghiệm để lưu trữ tế bào cho mục đích khoa học cũng như cho việc trồng thực vật khỏi bị đông giá.
Tại phòng thí nghiệm của Ðại học Uwate, Nhật Bản, nhà nghiên cứu Hiroshi Taniguchi đã khám phá ra rằng, một vài loại rau như cà rốt ớt xanh, pumpkins...có thể được sử dụng để chế biến tia laser. Laser hiện nay dược dùng rất phổ biến trong mọi lãnh vực y khoa học.
Trong thế chiến II, phi cơ Ðức quốc Xã thường oanh tạc Luân Ðôn vào ban dêm để tránh bị phòng không Anh bắn hạ. Quân đội Anh lại mới sáng chế ra máy radar để tìm bắn máy bay địch vào ban đêm. Ðể dấu phát minh này, giới chức quân sự Anh nói rằng phi công của họ ăn nhiều cà rốt nên phát hiện được máy bay dịch rất rõ, ngày cũng như đêm. Quân đội Ðức không tìm hiểu thêm vì tại nước họ cũng có nhiều người tin như vậy. Ðây chỉ là một giai thoại mà thôi.
Lựa và cất giữ cà rốt
Mua cà rốt nên lựa những củ còn lá xanh tươi, củ phải chắc nịch, mầu tươi bóng và hình dáng gọn gàng, nhẵn nhụi. Cà rốt càng có đậm mầu cam là càng có nhiều beta caroten.
Tránh mua cà rốt bị nứt, khô teo. Nếu cà rốt không còn lá, nhìn cuống coi có đen không. Nếu cuống đen là cà rốt quá già.
Vì đa số đường của cà rốt nằm trong lõi, nên củ càng to thì lõi cũng lớn hơn và ngọt hơn.
Cà rốt là loại rau khỏe mạnh, chịu đựng được điều kiện thời tiết khó khăn nên có thể để dành lâu hơn nếu biết cách cất giữ. Trước hết là đừng để thất thoát độ ẩm của rau.
Muốn vậy, cất cà rốt ở ngăn lạnh nhất của tủ lạnh, trong túi nhựa hoặc bọc bằng giấy lau tay. Ðừng rửa trước khi cất tủ lạnh vì cà rốt quá ướt trong túi sẽ mau bị hư. Chỉ rửa trước khi ăn. Cất như vậy có thể để dành được hơn hai tuần lễ.
Ðừng để cà rốt gần táo, lê, khoai tây vì các trái này tiết ra hơi ethylene làm cà rốt trở nên đắng, mau hư. Nếu cà rốt còn lá, nên cắt bỏ lá trước khi cất trong tủ lạnh, để tránh lá hút hết nước của củ và mau hư. Trước khi ăn, rửa củ cà rốt với một bàn chải hơi cứng. Ngoại trừ khi cà rốt quá già hoặc e ngại nhiễm thuốc trừ sâu bọ, không cần gọt bỏ vỏ.
Càrốt có thể làm đông lạnh để dành mà vẫn ngon. Trước hết phải trụng cà rốt trong nước sôi Ðây là cách để dành đông lạnh cho tất cả các loại rau. Trụng như vậy sẽ ngăn cản tác dụng làm mất hương vị, cấu trúc của thực phẩm.do các enzym có sẵn trong rau. Sau khi trụng trong nước sôi độ mươi phút, lấy cà rốt ra, cho vào bao nhựa rồi để ngay vào ngăn đông đá.
Kết luận
Cà rốt là món ăn khá rẻ tiền so với lượng dinh dưỡng quý giá mà rau cung cấp. Nhiều người ít ăn cà rốt chỉ vì thiếu hiểu biết đầy đủ về giá trị dinh dưỡng của thực phẩm này. Mặt khác, tập quán ăn uống vốn được thành hình từ thói quen lâu ngày. Cà rốt là loại cây trồng mới được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ trước, nên đối với phần đông người Việt, nhất là những người ở xa thành phố, vẫn chưa quen thuộc với việc sử dụng cà rốt thường xuyên trong ngày.
Xin nhắc lại một số đặc tính của cà rốt:
-Cà rốt có hương vị thơm ngọt, có thể ăn chung với thực phẩm khác
-Cà rốt có thể ăn sống hoặc nấu chín
-Trẻ em rất thích ăn cà rốt vì hương vị nhẹ nhàng của cà rốt
-Cà rốt sống mang đi cắm trại hoặc ăn giữa ngày snack rất tiện
-Giá cà rốt tương đối rẻ, lại có sẵn quanh năm
-Cà rốt có nhiều sinh tố A, beta caroten, sinh tố A cần cho làn da, mắt, tóc, sự tăng trưởng và phòng chống bệnh nhiễm. Beta caroten có khả năng giảm thiểu các bệnh kinh niên như tim mạch, ung thư
-Cà rốt có nhiều chất xơ, giảm cholesterol và bệnh đường ruột
-Cà rốt cho rất ít calori, nên không sợ bị mập phì
Nếu biết tận dụng loại thực phẩm này với các đặc tính như trên, chắc chắn chúng ta sẽ nâng cao tình trạng sức khỏe cũng như phòng ngừa được hầu hết các bệnh do thiếu vitamin A.

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Texas - Hoa Kỳ
[Xem tiếp...]
/