Châm Cứu Học

Hiển thị các bài đăng có nhãn Châm Cứu Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Châm Cứu Học. Hiển thị tất cả bài đăng

28/4/09

Đại Cương Châm Cứu

ĐẠI CƯƠNG CHÂM CỨU

I. ĐỊNH NGHĨA:
Châm và cứu đều có đặc điểm chung là kích thích vào huyệt tạo nên những phản ứng thích hợp với trạng thái bệnh lý, điều hòa chức năng bị rối loạn và giảm đau.
- Châm là dùng kim kích thích vào huyệt tùy theo chứng bệnh có thể châm sâu, nông, kích thích mạnh hoặc nhẹ.
- Cứu là dùng sức nóng kích thích vào 1 huyệt trên da nhằm điều khí giảm đau để phòng và chữa bệnh. Cứu dùng ngải tác động vào huyệt trong thời gian dài hay ngắn, ấm hay nóng tùy thuộc trạng thái của bệnh.
II. CÁC HÌNH THỨC CHÂM CỨU:
1. Hào châm: Kim châm ngắn dài khác nhau từ 1 - 7cm, thân tròn làm bằng thép không gỉ.
2. Kim tam lăng: Mũi nhọn có 3 cạnh dùng để châm nặn máu.
3. Mai hoa châm: Gồm 7 - 9 kim nhỏ buộc thành bó, cắm trên 1 cái cán gõ lên mặt da, mũi kim nằm trên 1 mặt phẳng và thẳng góc với mặt da.
4. Thủy châm: Tiêm thuốc vào huyệt như vitamin B1, B6, B12, Novocain, Lidocain...
5. Điện châm: Dùng dòng xung điện kích thích lên kim châm.
6. Chôn chỉ: Dùng chỉ tiêu phẫu thuật (catgut) cấy trong huyệt.
7. Chích nặn máu: Châm kim vào huyệt rồi nặn máu.
8. Nhĩ châm: Kim châm các huyệt ở loa tai.
* Ngoài ra còn có các hình thức châm khác như:
- Tỵ châm: Châm các huyệt ở mũi.
- Diện châm: Châm các huyệt ở mặt.
* Hiện nay có dùng tia lade, tia hồng ngoại, điện từ (nam châm) để kích thích lên vùng huyệt.
III. CƠ CHẾ TÁC DỤNG CHÂM CỨU:
1. Giải thích theo y học hiện đại:
1.1. Phản ứng tại chỗ:
- Châm cứu vào huyệt gây kích thích 1 cung phản xạ mới có tác dụng ức chế cung phản xạ bệnh lý: làm giảm cơn đau, giải phóng sự co cơ.
- Những phản xạ đột trục của hệ thần kinh thực vật làm ảnh hưởng đến sự vận mạch, nhiệt và sự tập trung bạch cầu... làm thay đổi tính chất của tổn thương, giảm xung huyết, bớt nóng, giảm đau...
- Phản ứng tại chỗ hay xung quanh nơi bị tổn thương Đông y gọi là thống điểm, A thị huyệt hay Thiên ứng huyệt.
1.2. Phản ứng theo tiết đoạn thần kinh:
Cơ thể có 31 tiết đoạn, mỗi đoạn gồm đôi dây thần kinh tủy sống, một khoanh tuỷ, đôi hạch giao cảm và 1 số cơ quan bộ phận thuộc tiết đoạn đó, khi một bộ phận trong tiết đoạn có bệnh sẽ gây nên sự thay đổi bất thường ở da (ấn đau điện trở giảm) ở cơ co rút gây đau.
Bất cứ 1 kích thích nào cũng liên quan đến hoạt động vỏ não, như vậy sự phân chia phản ứng cục bộ, phản ứng tiết đoạn chỉ có giá trị về mặt vị trí cơ thể vµ sự liên quan cục bộ từng vùng thông qua hoạt động của não với nội tạng.
1.3. Phản ứng toàn thân:
Bất cứ một kích thích nào, từ ngoài cơ thể hoặc từ trong các nội tạng đều được truyền lên vỏ não. Dựa vào phản ứng toàn thân ở vỏ não:
- Dùng những huyệt ở xa vùng bệnh nhưng có tác dụng đặc hiệu tới vùng bệnh
- Khi châm kim vào huyệt đạt "cảm giác đắc khí" (căng, tê, tức, nặng) dấu hiệu báo kích thích đã đến mức độ cần thiết (ngưỡng kích thích).
2. Giải thích theo y học cổ truyền:
Châm cứu có tác dụng điều khí, làm thông kinh lạc do đó lập lại sự cân bằng âm dương trong cơ thể và giảm đau.
2.1. Về sinh lý :
Dưới sự thúc đẩy của kinh khí, khí huyết, tuần hoàn không ngừng trong kinh lạc đưa dinh dưỡng đến lục ph ngũ t¹ng, làm cho cơ thể trong ngoài - trên dưới giữ được cân bằng sinh lý trong trạng thái bình thường.
2.2. Về bệnh lý :
Kinh lạc là đường liên hệ nối thông phần ngoài cơ thể với nội tạng. Trong trạng thái bình thường kinh lạc có thể giữ được sự cân bằng, điều khiển nhịp nhàng hoạt động của cơ thể. Nhưng nếu sự điều hòa tổng hợp của kinh lạc không bình thường sẽ xuất hiện bệnh.
2.3. Về chẩn đoán:
Mỗi nhánh của kinh lạc đều có bộ vị tuần hành nhất định và liên hệ với các tạng phủ nào đó. Cho nên bệnh của tạng phủ có thể biểu hiện qua kinh lạc trên bề mặt da cơ thể.
2.4. Về trị liệu:
Nếu một tạng phủ nào đó bị bệnh ta có thể theo 1 kinh đại diện tạng phủ mà dùng huyệt khôi phục lại công năng bình thường của kinh lạc
* Sự mất cân bằng âm dương phản ánh qua 4 trạng thái:
+ Hư là chính khí suy giảm.
+ Thực tà là khí quá mạnh.
+ Hàn là sức nóng của cơ thể giảm sút.
+ Nhiệt là sức nóng của cơ thể quá tăng.
* Dựa vào các trạng thái trên để định phép châm cứu.
+ Hư châm bổ (châm sâu - lưu lâu - kích thích nhẹ...)
+ Thực châm tả (châm nông - kích thích mạnh ...).
+ Hàn thì cứu hoặc ôn châm.
+ Nhiệt bốc hỏa không cứu chỉ châm hoặc nặn máu.
- Mối quan hệ giữa các tạng phủ: tuân theo quy luật âm dương, ngũ hành. Các chức năng hoạt động của các tạng phủ được tiến hành đều đặn, ăn khớp nhịp nhàng là nhờ khí huyết lưu chuyển trong các kinh lạc. Nếu kinh lạc bị bế tắc sẽ sinh bệnh. Châm cứu là thông kinh hoạt lạc, làm cho khí huyết lưu thông, nhờ vậy điều chỉnh được sự mất cân bằng âm dương.

27/4/09

Lịch Sử Châm Cứu

LỊCH SỬ CHÂM CỨU
Châm cứu bắt nguồn từ thời đại đồ đá với những cách chữa bệnh đơn giản như: dùng gai, que nhọn, xương thú, đá nhọn để chích một điểm trên da để giảm đau. Lâu dần qua kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng, người ta xác định được các "điểm" cần tác động khi muốn chữa 1 chứng bệnh, mặt khác cũng hiểu được mối quan hệ giữa các điểm ở ngoài da với các cơ quan tạng phủ bên trong cơ thể như: khí, huyết, kinh, lạc. Hệ thống kinh lạc là cơ sở chủ yếu của Châm cứu.
Quyển sách được coi là xưa nhất về Châm cứu là quyển 'Nội Kinh Linh Khu' viết cách đây gần 3000 năm (770-221 trước Công Nguyên). Trong quyển sách Châm cứu xuất bản ở NewYork năm 1973, Felix Mann cho biết rằng ở viện bảo tàng LonDon có giữ 1 bản vẽ về các đường kinh của con người từ năm 1550 trước Công Nguyên.
Thế kỷ thứ 3, đời nhà Tấn, Hoàng-Phủ-Mật (21-282) dựa theo sách 'Nội Kinh' và 'Minh Đường Khổng Huyệt Châm Cứu Trị Yếu' soạn ra quyển 'Châm Cứu Giáp Ất Kinh', xác định được 349 huyệt.
Đời nhà Đường, thế kỷ thứ 7, đã tổ chức 'Thái Y Thư' để dậy Châm cứu (đây có lẽ là trường dậy đầu tiên về châm cứu), trong đó có 1 thày dậy châm cứu, 1 trợ giáo, 10 thầy thuốc, 20 châm y và 20 châm sinh.
Thế kỷ 11, đời nhà Tống, Vương-Duy-Nhất soạn ra 'Đồng Nhân Du Huyệt Châm Cứu Đồ Kinh, xác định lại tên 364 huyệt, chủ trị và cách châm.
Đồng thời ông cho đúc 2 pho tượng đồng cao to bằng người thật, trên đó khắc huyệt và ghi tên huyệt để dậy.
Thế kỷ 16, đời nhà Minh, Dương Kế Châu soạn quyển 'Châm Cứu Đại Thành', gồm 10 quyển, dựa theo quyển 'Huyền Cơ Bí Yếu' và tổng hợp kinh nghiệm riêng cũng như thu thập hầu hết các tinh hoa của các cuốn sách trước đó, vì vậy, quyển 'Châm Cứu Đại Thành có giá trị rất cao và được coi là nền tảng của châm cứu cổ điển.
Sau quyển Châm Cứu Đại Thành, có khá nhiều sách viết về Châm cứu nhưng nội dung không có gì mới lạ hơn sách Châm Cứu Đại Thành...
Đến năm 1974, quyển sách 'Châm Cứu Học' của Thượng Hải ra đời, giới thiệu châm cứu rõ hơn, nhất là về phương diện giải phẫu, thần kinh, đồng thời sách này cũng giới thiệu hầu như toàn bộ các loại châm mới như: Châm Tê, Diện Châm, Điện Châm, Đầu Châm, Nhĩ Châm, Thủ Châm, Túc Châm, Xích Y Châm... được coi là quyển sách giáo khoa tương đối đầy đủ nhất về châm cứu.
Tại châu Âu, ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, phương Tây đã biết đến Châm cứu, tuy nhiên, châm cứu học không thể phát triển được ở Âu Châu.
Phải chờ đến những năm 1940 trở đi, khi châm cứu được áp dụng thành công trong việc gây tê giải phẫu, và sau đó năm 1957, khi Paul Nogier công bố những công trình nghiên cứu khoa học của ông về Nhĩ Châm, lúc đó, thế giới mới bắt đầu quan tâm tìm kiếm, nghiên cứu và học hỏi về châm cứu 1 cách sâu xa... Nhờ tiến bộ về khoa học thực nghiệm, Âu Châu đã có những công trình nghiên cứu hết sức lớn lao, đóng góp cho ngành châm cứu giải quyết được rất nhiều vấn đề từ cơ bản đến thực nghiệm lâm sàng, đặc biệt những công trình khảo cứu sâu về cơ chế hệ thần kinh, cơ chế của châm giảm đau, châm gây tê...
Việt Nam biết châm cứu từ rất sớm.
Thời vua Hùng (287-207 trước công nguyên), trong 'Lĩnh Nam Trích Quái' có ghi tên thầy châm cứu giỏi là An-Kỳ-Sinh, người làng Đông Triều, vào thế kỷ thứ 2, đã dùng châm cứu trị cho 1 người tên là Thôi-Văn-Tứ ở Cao Lễ, Chí Linh.
Đời Thục An Dương Vương(257-207 trước công nguyên), sách sử ghi: Thôi-Vĩ, con của Thôi-Lạng được Ma Cô Tiên cho tấm lá ngải, chuyên dùng để trị các bệnh có thịt thừa (nhục anh). Thôi Vĩ đã dùng tấm ngải này chữa khỏi cho đạo sĩ Ưng-Huyền, Nhâm-Ngao. Vì thế, có lẽ Thôi-Vĩ là người đầu tiên biết dùng phép cứu để trị bệnh.
Đời nhà Trần, dưới triều vua Trần Dụ Tông, Trâu-Canh dùng châm cứu cứu sống thái tử Hạo (con vua Trần Minh Tông) khỏi chết đuối, sau đó, khi thái tử Hạo lên ngôi (tức vua Trần Dụ Tông) lại cho mời Trâu-Canh làm ngự y và chữa cho nhà vua khỏi bệnh liệt dương.
Đời nhà Hồ (1401-1407), Nguyễn-Đại-Năng viết quyển 'Châm Cứu Tiệp Hiệu Diễn Ca', đây là quyển sách châm cứu đầu tiên biên soạn 1 cách công phu, được nhà xuất bản Y Học dịch và in năm 1981.
Thế kỷ 15, Nguyễn-Trực trong 'Bảo Anh Lương Phương' có đề cập đến phép cứu huyệt để trị bệnh cho trẻ nhỏ.
Thế kỷ 17, Lý-Công-Tuân viết 'Châm Cứu Thủ Huyệt Đồ'và 'Châm Cứu Tiệp Hiệp Pháp' bằng tiếng Nôm.
Thế kỷ 18, Lê-Hữu-Trác, trong 'Hải Thượng Y Tôn Tâm Lĩnh' có nêu lên 1 số cách châm cứu trị bệnh cho trẻ nhỏ.
Vào thời kỳ Pháp thuộc, vì bị cấm đoán không được công khai hành nghề, do đó, môn châm cứu đã không được phát triển rộng rãi, mãi đến khi đất nước giành được độc lập, môn châm cứu mới được quan tâm, thừa kế và phát triển.
Hiện nay nước ta có 3 trung tâm nghiên cứu và thực hành châm cứu lớn đó là:
+ Viện y học dân tộc Hà Nội (thành lập 1957).
+ Viện y dược học dân tộc học TP.HCM (thành lập 1976)
+ Viện châm cứu Việt Nam (thành lập 1982).
Hội Châm Cứu Việt Nam được thành lậpTháng 10 năm 1968.
Châm cứu Việt Nam đã có tiếng vang trên toàn thế giới. Nhiều nhà châm cứu giỏi Việt Nam đã có những đóng góp lớn đối với châm cứu thế giới. Nhiều chuyên gia châm cứu Việt Nam được mời sang các nước Châu Âu, Châu Phi để chữa bệnh và đào tạo cán bộ châm cứu cho các nước.
Châm cứu sử dụng đơn giản, dễ ứng dụng, giải quyết được nhiều chứng bệnh thông thường, tham gia phục hồi chức năng như: bại liệt, câm điếc, teo cơ, cứng khớp ...
Ngoài ra còn điều trị 1 số bệnh xã hội: nghiện ma túy, thuốc lá ... Góp phần vào công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu của toàn ngành.